ĐẶT VÉ: 0889371234

Cùng với sự gia tăng quy mô của cuộc chiến tranh xâm lược, nhà tù Côn Đảo cũng được mở rộng. Phái đoàn quân sự Hoa Kỳ sau nhiều đợt khảo sát (1967- 1968) đã đề nghị chính Phủ mỹ sử dụng ngân sách: “Chương trình viên trợ quân sự và kinh tế của Mỹ ở Việt Nam” để xây dựng trại giam kiểu mẫu ở Côn Đảo. Hãng thầu RMK- BRJ là một trong những hãng thầu nổi tiếng của Mỹ đã trúng thầu và gấp rút xây dựng một hệ thống trại giam gồm: Trại VI, Trại VII, Trại VIII (khởi công xây dựng cùng một lúc năm 1968), Riêng Trại IX đang xây dựng dang dở thì hiệp định Paris ký kết nên bỏ dở.

Khác với trại giam do thực dân Pháp xây dựng, các công trình phụ như nhà bếp, bệnh xá, kho lương thực, thực phẩm thì được bố trí trước cổng trại, còn các phòng giam thì ẩn sâu bên trong.

Trại 6 sau này được gọi là trại Phú An gồm 20 phòng giam, chia làm 02 khu: A và B, mỗi khu có 10 phòng được bố trí thành hai dãy đối diện nhau và có một khu biệt lập gồm 4 xà lim. Tổng diện tích 42.140m2

Đầu năm 1970. Khu A (từ phòng 1đến phòng 10) giam giữ những người tù chưa thành án (Câu lưu, hồi cứu), bị bắt sau tết Mậu Thân năm 1968 .

Tháng 8/1970, Mỹ ngụy đã thành lập Tiểu đoàn tâm lý chiến thí điểm Côn Sơn tại đây.

Khu B, lúc đầu là nơi giam giữ những người tù chính trị chống đối, được Tiểu đoàn tâm lý chiến khóa I thanh lọc. Đây là tập thể chiến đấu kiên cường được sàn lọc từ hàng trăm đợt đấu tranh chống tố cộng, chóng ly khai Đảng cộng sản từ thời Mỹ Diệm.

Năm 1972, sau khi Tiểu đoàn tâm lý chiến thất bại, địch đã đổi cách đọc ngược lại là từ phòng 11 đến phòng 20 gọi là khu A, từ phòng 01 đến phòng 10 là khu B.

Đảng bộ mang tên người chiến sỹ Lưu Chí Hiếu đã được thành lập vào ngày 3/02/1972. Bí thư là đông chí Trần Văn Cao(Tư Cao) với tinh thần đòan kết và chiến đấu cao, tù chính trị câu lưu ở rại 6 khu B đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu. Trong đó có đợt tuyệt thực 19 ngày (10/1972). Cuộc đấu tranh chống lăn tay chụp hình, tráo án tù chính trị thành “gian nhân hiệp đảng” (5/1973) và đây cũng là nơi ra đời Tập san Sinh Hoạt và Xây Dựng.

Cuối năm 1974, nắm được tinh thần Hiệp dịnh Paris, Đảng ủy, Đảng bộ Lưu Chí Hiếu đã thành lập Ban quân sự, Ban an ninh để chuẩn bị đón thời cơ tự giải phóng.

Di tích trại Phú An đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Sau khi thực dân Pháp bàn giao nhà tù Côn Đảo vào tháng 3/1955. Để mở rộng hệ thống nhà tù. Năm 1962 Mỹ ngụy đã cho xây dựng trại V, sau hiệp định Pari đổi tên là trại Phú Phong. Gồm 12 phòng giam chia làm ba dãy, mỗi dãy có 4 phòng và 1 nhà bếp,..với tổng diện tích 3.594m2,, mái lợp bằng fibroximăng, được che chắn phía trước khu Chuồng cọp Pháp. Năm 1965, địch giam một bộ phận tù binh và tù câu lưu dân sự mới bị đày ra Côn Đảo.

Trong những năm 1966-1968. Tại đây, tập thể nữ tù chính trị đã trở thành lực lượng trung kiên, sát cánh với tập thể tù chính trị câu lưu và tập thể tù án chính trị đấu tranh chống chào cờ.

Ngày 23/9/1966, ngụy quyền Sài gòn đày 36 phụ nữ chống đối từ các nhà lao đất liền ra Côn Đảo giam ở Trại V. Toàn bộ nữ tù tuyên bố chống chào cờ, chống nội quy, chịu chế độ khắc nghiệt. Cuối năm 1966 nữ tù đấu tranh tuyệt thực, đòi cải thiện đời sống, đòi đưa về đất liền. Nữ tù đấu tranh hình thức cao nhất là mổ bụng, Tháng 3/1968, buộc địch đưa số nữ tù về nhà lao Chí Hòa. Sau đó tháng 9/1968, chúng chuyển về nhà lao Thủ Đức.

Trại Phú Phong là nơi diển ra nhiều cuộc đàn áp của địch, đồng thời cũng là nơi biểu dương tinh thần đấu tranh kiên cường của tập thể nữ tù và tù nhân bị giam giữ tại đây.

Di tích trại Phú Phong đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia

Banh III Phụ xây dựng năm 1940. Còn có các tên gọi Lao III phụ, Trại phụ Bác Ái, trại IV và cuối cùng đổi tên là trại Phú Tường. Tổng diện tích: 5.804m2, bao gồm: 8 phòng giam chia làm hai dãy, các công trình phụ như: nhà bếp, nhà kho, bệnh xá và sân vườn…

Banh III xây dựng cùng thời gian với Banh III phụ và trại 5 (từ 1940-1962) tạo thành một cụm bao quanh che giấu cho khu biệt lập “Chuồng cọp Pháp” Năm 1952, sử dụng giam lớp tù binh mới ra đảo. Chủ trương “tích cực tấn công địch” đã hình thành từ đây, chuẩn bị vũ trang cho toàn thể tù chính trị về tư tưởng tiến công cách mạng trong mọi họat động và đấu tranh, quán triệt sâu sắc quan điểm “Nhà tù là một mặt trận mà người tù là chiến sỹ, “Đấu tranh trong tù là một bộ phận của cuộc đấu tranh cách mạng, trong cuộc kháng chiến của dân tộc”

Một thời gian, nơi đây giam những người tù mắc bệnh truyền nhiễm. Năm 1959, ngụy quyền chuyển 1.500 tù chính trị câu lưu chống ly khai ở trại I về phân tán ở trại giam này cùng với Banh III và khu biệt lập Chuồng cọp.

Trại Phú Tường là nơi thực dân pháp và đế quốc mỹ đã giam cầm, đày ải bao thế hệ chiến sĩ các mạng, những người yêu nước Việt Nam, đồng thời là nơi thể hiện khí phác kiên cường đấu tranh của tập thể tù nhân bị giam giữ tại đây.

Di tích trại Phú Tường đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Năm 1928, Thực dân Pháp tiếp tục xây dựng Banh III. Tổng diện tích: 12.7002, lần lượt gọi các tên: Banh III. Lao 3, Trại Bác Ái, Trại 1, Trại Phú Thọ.

Thời thực dân Pháp gồm 3 dãy trại giam, trong đó có 2 dãy phòng giam tập thể và 1 dãy biệt lập, 1 khu nhà bếp và 1 khu bệnh xá. Sau Cách mạng tháng 8/1945 trại giam này được chỉnh trang lại còn 2 dãy (mỗi dãy có 4 phòng).

Thời Mỹ ngụy xây thêm 2 phòng 9 và phòng 10 phía sau Bệnh xá. Đặc biệt, phòng 10, Mỹ – ngụy dùng làm khu biệt lập để bổ sung cho khu Chuồng Cọp, nên được ngăn ra 15 phòng biệt giam nhỏ, trên trần không có song sắt như Chuồng Cọp, chỉ đan bằng kẽm gai chằng chịt. Người tù bị giam vào đây đã đặt cho nó cái tên rất dí dỏm: “Biệt lập Chuồng Gà”. Ngòai ra còn có các công trình phụ: Nhà ăn, nhà kho, nhà bếp, văn phòng giám thị và sân vườn…

Thực dân Pháp sử dụng Banh III để giam giữ, cách ly những tù nhân mới bị đưa ra Đảo trước khi chuyển qua các Banh khác, nhằm để ngăn chặn tin tức từ đất liền đưa ra, sợ ảnh hưởng đến tù nhân cũ. Sau đó, Bagne III trở thành nơi giam giữ tù chính trị mà địch liệt vào hạng “Thành phần nguy hiểm “, “Bất trị” bị kết án về tội phá hoại và âm mưu phá rối trị an, tù vượt ngục nhiều lần…cũng bị đưa ra đây.

Giai đoạn năm 1939 – 1945 là nơi dùng để giam giữ những người bị bắt trước và sau Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), trong đó có các đồng chí: Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, Dương Bạch Mai…Các chuyến chuyển tù nhân từ Sơn La – Hỏa Lò bị đày ra đảo mùa hè 1944 cũng bị cấm cố ở đây, có nhiều đồng chí là lãnh đạo cấp ủy và xứ ủy Bắc Kỳ. Banh III là một trong những trại đày ải cầm cố khắc nghiệt, hàng ngàn tù chính trị bị đánh đập, đày ải đến chết trong thời kỳ thực dân Pháp khủng bố trắng sau khởi nghĩa Nam Kỳ.

Đồng chí Vũ Văn Hiếu người Bí thư đầu tiên Đặc khu mỏ Hòn Gai đã trút hơi thở cuối cùng trong phòng cấm cố. Phút lâm chung đồng chí đã trao tấm áo trên người mình khoác cho người bạn tù – đồng chí Lê Duẩn với lời trăn trối: “Ráng sống mà phục vụ cho cách mạng”. Liệt sỹ Vũ Văn Hiếu đã trở thành biểu tượng của người cộng sản: “Sống vì đảng – chết cũng không rời Đảng”, là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà điêu khắc sáng tạo tượng đài trao áo qua tứ thơ: “Chết còn cởi áo cho nhau”.

Di tích trại Phú Thọ đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Banh I còn có các tên: Lao I, trại Cộng Hòa, trại 2, tên cuối cùng (tháng 11/1974) được gọi là trại Phú Hải, do Thực dân Pháp xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 19. Diện tích: 12.015m2. Gồm 10 phòng giam tập thể; 1 phòng giam tù đặc biệt; 20 xà lim (hầm đá), Khu lao động khổ sai đập đá, Hầm xay lúa, vừa là nơi làm khổ sai (xay lúa) vừa là nơi đày ải nghiệt ngã đối với tù nhân, thời Mỹ -ngụy chuyển thành (bệnh xá). Ngòai ra còn có các công trình phụ như: Câu lạc bộ; phòng hớt tóc; nhà bếp; nhà ăn; giảng đường, nhà nguyện, phòng trật tự; nhà kho; văn phòng giám thị và sân vườn.

Có thể nói, các lớp tù nhân từ thuở Cần Vương, Văn Thân chống Pháp như: chí sỹ Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lã Xuân Oai, Phan Chu Trinh,… đến nhiều chiến sỹ cách mạng Việt Nam như: đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng,…đến thế hệ sinh viên học sinh xuống đường chống Mỹ – Thiệu bị bắt đều trải qua những năm tháng lao. Đây là nơi Chi bộ cộng sản đầu tiên trong nhà tù Côn Đảo được ra đời cuối năm 1932, sau phát triển thành Đảo ủy Côn Đảo. Banh I cũng là nơi những người cộng sản mở các học văn hóa, lý luận, chính trị. Đặc biệt là khóa học Chủ nghĩa Mác- LêNin theo chương trình huấn luyện của Đại học Phương Đông do giáo sư Trần Văn Giàu phụ trách. Tại đây, một số tờ báo “Tiến lên”, “Ý kiến chung” được chuyển từ Banh II về năm 1935.

Khu đập đá: Chí sỹ yêu nước Phan Chu Trinh đã từng khổ sai ở đây và đã sáng tác bài thơ “Đập đá Côn Lôn” (được đưa vào văn học Việt Nam).

Năm 1957, Mỹ ngụy đã đưa 41 phụ nữ chống ly khai, tố cộng từ các nhà lao ở đất liền ra Côn Đảo. Đây là lớp nữ tù chính trị đầu tiên thời chống Mỹ ra nhà tù Côn Đảo.

Banh I là điển hình của chế độ khổ sai. Hầu như mỗi mảnh đất Côn Đảo đều khắc sâu nỗi cực nhọc và thấm máu của người tù. Trong sự đày đọa khốn cùng, những người cộng sản, những người yêu nước phải quyết định vận mệnh, chịu chết mỏi mòn hoặc là đấu tranh để sống trở về tiếp tục họat động cách mạng. Người tù phải chống lại cả một bộ máy từ chúa đảo đến nhiều gác ngục và tay sai…Điều đó, đòi hỏi người tù cộng sản phải được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, hình thức đấu tranh thích hợp. Nơi đây còn là hiện thân của: “địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Thời Mỹ – Ngụy, địch dùng mọi biện pháp từ dụ dỗ, đối xử tử tế đến những thủ đoạn để ép buộc tù chính trị ly khai Đảng Cộng sản…Năm 1957, đây là nơi khởi đầu cuộc đấu tranh chống ly khai Đảng cộng sản của tù chính trị câu lưu, ngọn cờ đầu của phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của tù chính trị Côn Đảo.

Banh I đã trải qua 113 năm với bề dày lịch sử ngang tuổi nhà tù còn lưu lại nhiều dấu ấn anh hùng trong cuộc đấu tranh lâu dài và bất khuất của những người yêu nước cách mạng Việt Nam tại ngục tù Côn Đảo.

Di tích trại Phú Hải đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Banh II, do thực dân Pháp xây dựng năm 1908 hoàn thành năm 1916. Sang thời Mỹ ngụy đổi tên là lao 2, trại Nhân Vị, Sau đó gọi là trại 3. Sau hiệp định Paris năm 1973 gọi là trại Phú Sơn. Diện tích 13.228m2 gồm 13 phòng giam lớn và 14 xà lim. Ngòai ra còn có các công trình phụ như: Phòng y tế, nhà ăn, nhà bếp, câu lạc bộ, phòng hớt tóc, văn phòng giám thị và sân vườn…

Banh II xây dựng đồ sộ và kiên cố hơn, có lối đi bên trên để trật tự cai ngục đi kiểm tra người tù. Một lần vào đêm khuya tù nhân đã tìm cách vật tên cai ngục xuống chết tại chỗ, từ đó địch khiếp sợ không sử dụng lối đi này nữa.

Trái với yêu cầu cấp bách của Banh I là phải đấu tranh chống chế độ khổ sai giết tù thì yêu cầu cấp bách của Banh II là đòan kết các xu hướng chính trị, đấu tranh đòi cải thiện đời sống, thực hiện chế độ tù chính trị, bảo vệ sinh mạng cán bộ. Nơi đây, các đồng chí đã tổ chức học tập văn hóa, lý luận, đào tạo và rèn luyện cán bộ, nhiều đồng chí cán bộ cốt cán của Đảng và Nhà nước ta đã trưởng thành như: đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hòang Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Hà Huy Giáp…

Khu xà lim cũng được bố trí tinh vi hơn, nằm khuất sau bức tường dày, nếu không quan sát kỹ thì khó phát hiện được. Tù nhân bị cấm cố ở đây bị ghẻ lở đầy người, mỏi mòn đi vì thiếu ánh sáng, khí trời và dinh dưỡng. Thêm vào đó là chế độ ăn uống tồi tệ, nhiều người bị kiết lỵ nặng rồi chết. Khu xà lim mà Thực dân Pháp còn gọi là “Vườn ươm cây cộng sản”, vì nhiều đảng phái khác đã bị đưa ra và giam chung với tù chính trị để gây mâu thuẫn, nhưng với tài cảm hóa của Đảng cộng sản Việt Nam, cuối cùng họ đã trở thành cộng sản. Nơi đây đã từng giam giữ, cấm cố đồng chí Lê Hồng Phong, Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh… Dưới chế độ khắc nghiệt của nhà tù, ngày 06/9/1942, căn bệnh kiết lỵ và những trận tra tấn của địch, đồng chí Lê Hồng Phong đã trút hơi thở cuối cùng tại Xà lim số 05.

Giai đọan 1951-1953, Banh II là nơi giam giữ các đòan tù binh từ miền Bắc và miền Trung đưa ra. Phương án võ trang giải thóat tù nhân đã hình thành từ đây, đẫn đến cuộc võ trang vượt Đảo tại Bến Đầm ngày 12/12/1952 của 198 tù binh.

Năm 1964, nơi lực lượng xung kích mở đầu cuộc đấu tranh mang tên “Mùa thu đồng khởi” (tháng 7/1970). Đây là cuộc đồng khởi chống khổ sai và chống chào cờ của hơn 4000 tù chính trị trên tòan đảo.

Mùa xuân năm 1935, tại sân Banh II, đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Kim Cương cùng một số đồng chí khác đã tổ chức diễn thành công vở kịch Napoleon. Gác ngục Pháp vào xem rất đông, Các vở kịch không chỉ thành công trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn thắng lợi về mặt ngọai giao. Nhiều gác ngục Pháp tỏ thái độ kính nể những người tù cộng sản có văn hóa, có nhân cách và hiểu biết sâu rộng. Từ đó họ ít đánh tù và xưng hô bớt thô tục hơn.

Banh II được xem như một bề dày lịch sử sau Banh I, là nơi ghi dấu ấn của bao thế hệ tù chính trị.

Di tích trại Phú Sơn đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Khu điều tra xây dựng theo lối kiến trúc kiểu phương tây. Thực dân Pháp sử dụng làm nhà ở. Sang thời Mỹ năm 1960 sử dụng làm khu điều tra, gồm 3 dãy nhà:

– Dãy nhà A còn gọi là phòng thường trực

– Dãy nhà B còn gọi là phòng hồ sơ lưu trữ

– Dãy nhà C còn gọi là phòng lấy cung và tra tấn. Ngoài ra còn có phòng biệt giam và nhà vệ sinh.

Khu điều tra là 1 bộ phận làm việc và lưu trữ hồ sơ hỏi cung. Tù nhân trước khi bị đưa vào một trại giam nào, sẽ được đưa vào đây để hỏi cung. Tùy theo mức độ nguy hiểm của người tù mà chuyển vào từng trại.

Cũng có trường hợp tù nhân ở các trại bị tình nghi có chuẩn bị bạo động hoặc có những hành động chóng lại cai ngục, bị chúng để ý cũng đưa về đây lấy cung. Nếu tù nhân nào tỏ ra ngoan cố thì bị bọn hỏi cung đánh đập và cho vào phòng biệt giam tạm thời.

Từ năm 1966 – 1970, khu điều tra thu hẹp lại thành Ban sưu tra.

Di tích Khu điều tra đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia

BQL Di tích Huyện Côn Đảo

Côn Đảo, là nơi yên nghỉ của hàng vạn chiến sỹ cách mạng và đồng bào yêu nước Việt Nam qua nhiều thế hệ bị tù đày kéo dài 113 năm đã lần lượt hy sinh dưới ách tàn bạo của thực dân và đế quốc.

Nghĩa trang Hàng Dương rộng 190.000m2 .Theo số liệu ước định, có khoảng 2 vạn tù nhân yên nghỉ tại Côn Đảo. Tuy nhiên không phải tất cả đều nằm ở Hàng Dương. Nghĩa địa đầu tiên được lập ở khu vực Chuồng Bò (Di tích bãi sọ người), sau dời lên Hàng Keo. Đến sau năm 1934 và nhất là giai đoạn 1941, chế độ khủng bố trắng sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã giết hại hàng ngàn tù nhân. Nghĩa địa Hàng keo hầu như hết chỗ, thực dân Pháp mới mở nghĩa địa Hàng Dương để chôn tù.

Hiện nay NTHD được chia làm 4 khu: A-B-C và D ( Riêng khu B được chia ra làm 2 phần B1 và B2).

Khu A Nghĩa trang Hàng Dương, là nơi chôn những ngôi mộ đầu tiên (Khoảng năm 1934), ở đó có phần mộ của đồng chí Lê Hồng Phong (Cố Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam ), chí sỹ yêu nước Nguyễn An Ninh.

Đến cuối năm 1944, khu A đã chôn chật mộ, nhà tù đã mở rộng nghĩa trang về phía Nam, tức khu B hiện nay. Hài cốt lớp tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát chạy dài xuống phía Đông Nam, nơi có các phần mộ của nữ AHLLVTNDVN Võ Thị Sáu, Anh hùng Cao Văn Ngọc, Anh hùng Lưu Chí Hiếu.

Hài cốt lớp tù nhân chống Mỹ được chôn vào phần còn lại của khu B (Còn gọi là khu B2) .

Đến khoảng năm 1960 chôn tiếp qua khu C. Ở đây có phần mộ của anh hùng LLVTND VN Lê Văn Việt, Anh hùng Nguyễn Thị Thanh (Trần Thị Hoa), Anh hùng Hùynh Tấn Lợi.

Nghĩa trang Hàng Dương được khởi công xây dựng và tôn tạo vào ngày 19/12/1992. Ngoài 3 khu mộ được phân định trên, công trình tôn tạo còn lập thêm khu D, đây là nơi quy tập 162 bộ hài cốt từ nghĩa trang Hàng Keo, Hòn Cau và 1 số nơi khác trên Côn Đảo về. Có phần mộ AHLLVTNDVN Trần Văn Thời.

Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo là một di tích căm thù, có giá trị tố cáo chế độ thực dân, đế quốc đồng thời giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Do đó Nghĩa Trang Hàng Dương khác hẳn với các nghĩa trang liệt sỹ có trong nước ta, không phô trương khác với thực tế lịch sử mà hài hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên, gây ấn tượng tưởng niệm sâu lắng.

“Núi Côn Lôn được pha bằng máu

Đất Côn Lôn năm sáu lớp xương người

Mỗi bước chân che lấp một cuộc đời

Mỗi tảng đá là một trời đau khổ”

Hay:

“ Nghĩa địa Hàng Dương vùi thây bao số phận

Hết lớp này lớp khác dập lên trên

Mặt phẳng lì không mô đất nhô lên

Không bia mộ không tên và không tuổi…”

Những vần thơ trên đã nói lên cách chôn tù của thực dân và đế quốc ở Côn Đảo. Nhất là trong thời thực dân Pháp, mỗi khi có một người tù chết cai ngục cho an táng bằng cách dùng hai chiếc bao bàng, một chiếc trùm từ trên đầu xuống, một chiếc trùm từ dưới chân lên rồi buộc lại bằng vài nuộc dây, sau đó đưa ra nghĩa địa đào một cái hố sơ xài để vùi xuống, bên trên cắm một cọc gỗ có đính một mảnh nhôm (2 x 3 cm), trên mảnh nhôm ấy chỉ ghi vắn tắt số tù và ngày quá cố của người tù. Mấy hôm sau, những đợt gió mạnh hoặc Trâu – Bò dẫm bừa lên cọc gỗ ngã … mất hết dấu vết.

Chưa kể có những trường hợp tù nhân đi làm khổ sai bị tai nạn hoặc kiệt sức chết, bọn cai ngục cho vùi chôn tại chỗ. Nhiều chuyến vượt biển của tù nhân bị sóng gió, thuyền – bè chìm đắm giữa biển khơi. Có thể nói rải rác khắp Côn Đảo đều có xác tù.

Trãi qua 113 năm ngục tù Côn Đảo, có khoảng hai vạn người đã yên nghỉ, nhưng thực tế dấu vết còn lại đến ngày hôm nay là 1.921 phần mộ, trong đó chỉ tìm được 713 phần mộ có danh tánh. Vì trong quá trình bị địch bắt tù đày có nhiều người tù chính trị giữ vững khí tiết và bí mật cho cơ sở nên đã khai tên tuổi, quê quán giả…

Dù cho mộ chí ở đây có tên hay không tên, được tôn tạo hay còn bị vùi lấp thì mỗi nắm đất nơi đây đều là một dấu tích của bao sự kiện đấu tranh cách mạng đối với mỗi liệt sỹ, mỗi con người, mỗi thời kỳ đấu tranh của nhà tù Côn Đảo.

Đã có nhiều chiến sĩ đã ngã xuống vì đòn roi, tra tấn và một phần thân xác đã nằm lại nghĩa trang Hàng Dương

Di tích Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Cạnh lối bước ra cầu tàu 914 phía trước dinh thự chúa đảo là một ngôi biệt thự kiến trúc kiểu tây khiêm tốn nằm nép dưới tán bàng cổ thụ. Đó là ngôi nhà khách do Pháp xây dựng từ cuối thế kỉ 19 nằm trong quần thể của dinh thự Chúa đảo. Diện tích 150 m2. Sang thời Mỹ ngụy, gọi là nhà Công quán hay Câu lạc bộ, cũng là nơi dừng chân của các lữ khách khi đến dây thi hành công vụ.

Tại đây đại nhạc sỹ kì tài nước pháp tên Camille Saintsaens đã lưu lại đây tròn 1 tháng (20/3 – 19/4/1895) ông đã đến theo lời mời của một người bạn cũ tên là Roussrau và chúa đảo Jacke. Được sự đón tiếp của chúa đảo ông đã sống tại Côn Đảo như một thượng khách. Trong thời gian gần một tháng ở Côn Đảo ông đã có dịp đi dạo các con đường ven biển, đi vào khu rừng sinh thái… và ông cũng từng chứng kiến cảnh tù nhân tù làm khổ sai hàng ngày như: Ngâm mình hàng mấy giờ đồng hồ dưới nước để lấy san hô về nung vôi, làm khổ sai phá đá mở đường, kéo gỗ… và đêm cuối cùng ở Côn Đảo ông đã lần theo chân của những người tù đến Banh I và ông đã nghe từ trong các phòng giam, xà lim vọng ra tiếng đàn nhị so dây. Ông không thể hình dung được với sự tra tấn dã man mà người tù vẫn lạc quan như thế cộng với tiếng sóng biển và vẻ đẹp thiên nhiên ở Côn Đảo mà ông đã cảm nhận được. Đêm đó khi trở về phòng ông đã thức trắng đêm và hoàn tất chương cuối của vở nhạc kịch “Brunechilda”. Nỗi niềm trăn trở của ông còn lưu lại trong bức thư gởi chúa đảo Jacke… phong cảnh Côn Đảo thật tuyệt vời, những nơi tôi đã đi qua tôi chưa thấy nơi nào đẹp như thế, là người làm nghệ thuật tôi tin chắc rằng : Ở đâu cái đẹp được tôn trọng, ở đó cái xấu được đẩy lùi, ở đó chẳng cần đến luật pháp…

Hiện nay ngôi nhà này được trùng tu trong quần thể của Dinh Chúa đảo. Có lẽ đây cũng là dấu ấn văn minh nhất của nước Pháp còn lưu lại tại hòn đảo ngục tù ngày ấy.

Di tích nhà Công Quán đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia

Nghĩa trang hàng Keo có diện tích 80.000m2, là nơi vùi chôn khoảng 10.000 tù nhân bị thực dân Pháp giết hại tại nhà tù Côn Đảo từ đầu thế kỷ XX cho đến giai đoạn khủng bố trắng 1940-1941.

Đi Hàng Keo là lối nói của người tù khi tiễn bạn về nơi an nghỉ. Có một câu ca ai oán đeo đẳng bao kiếp tù thuở ấy.

“Côn Lôn đi dễ khó về

Sống nương Núi Chúa, thác về Hàng Keo”.

Năm 1997, các phần mộ tìm thấy ở đây đã được cải táng di dời về khu D – Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo. Hiện nay chỉ còn lại rừng cây tự nhiên và những hài cốt của tù nhân còn nằm dưới lòng đất chưa tìm thấy.

Nghĩa trang Hàng Keo là chứng tích của thực dân đối với dân tộc ta, là một dấu tích của bao sự kiện đấu tranh cách mạng đối với mỗi liệt sỹ, mỗi con người, mỗi thời kỳ đấu tranh của nhà tù Côn Đảo. Nơi hàng nghìn chiến sỹ cách mạng và đồng bào yêu nước đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, là một bài học sâu sắc để giáo dục truyền thống cách mạng cho mọi thế hệ hôm nay và mai sau.

Di tích nghĩa trang Hàng Keo đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Website được thiết kế và vận hành bởi Tý Hon Media